Honda

Published on May 2016 | Categories: Documents | Downloads: 30 | Comments: 0 | Views: 292
of 33
Download PDF   Embed   Report

Comments

Content

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
I.

TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA HONDA: Honda chính thức thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1948, do ông Soichiro Honda

1. Lịch sử hình thành: xây dựng và lãnh đạo. Bắt đầu với số vốn tương đương 9200 USD, công ty khởi nghiệp bằng sản xuất động cơ, lắp đặt xe gắn máy dạng A và một số xe mô-tô như xe Dream D đời đầu, ra mắt vào tháng 8 năm 1949. Phải đến năm 1952, chiếc ô tô Honda đầu tiên ra đời với hai mẫu T360 và S500. S500 là loại xe roadster nhỏ, vận tốc cực đại 100km/h, giá rẻ, đây chính là ý tưởng “xe cho mọi người” của hãng Honda. Mặc dù “sinh sau đẻ muộn”, Honda vẫn góp mặt vào đường đua công thức 1 năm 1964 và F2 năm 1965. Từ đó, công ty không ngừng phát triển lớn mạnh trên tất cả các lĩnh vực kinh doanh của mình. Với 60 năm thâm niên hoạt động, Honda chỉ đi sau Ferrari (thành lập năm 1947) một năm, còn General Motors thì đã kỉ niệm 100 năm ra đời vào tuần trước. Sự khác nhau về dòng sản phẩm, “tuổi tác” và địa vị hiện tại trên thị trường của 3 hãng đã phản ánh những thành tựu mà bề dày kinh nghiệm có thể mang lại trong ngành công nghiệp ô-tô. Từ những chiếc xe khiêm nhường đầu thập niên 60, Honda đã phát triển qua 5 thập kỷ, với doanh số bán ra hàng năm lên tới 3.9 triệu ô tô, 9.3 triệu xe máy, hàng triệu động cơ cỡ nhỏ, động cơ xuồng máy và nhiều sản phẩm khác, nâng số lượng động cơ đốt trong sản xuất năm ngoái của hãng lên tới gần 24 triệu chiếc. 2. Viễn cảnh-sứ mệnh:
a. Viễn cảnh:

“Trở thành tập đoàn sản xuất ô tô, xe máy và các sản phẩm công nghệ hàng đầu Thế Giới.”
b. Sứ mệnh:

Honda duy trì một quan điểm toàn cầu là cung cấp sản phẩm chất lượng cao nhất nhưng ở một mức giá hợp lý tạo ra sự hài lòng cho khách hàng trên toàn thế giới. Nhiệm vụ của Honda là :


Tiếp tục tạo ra những tham vọng.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 1

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
• • •

Tôn trọng những nguyên tắc cơ bản, phát triển ý tưởng mới, và sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhất. Khuyến khích một môi trường làm việc cởi mở, năng động. Tập trung vào các giá trị của việc nghiên cứu và phát triển.

c. Slogan: “The Power Of Dream”. - Mỗi người đều có một giấc mơ, một mục tiêu hoạt động làm cho cuộc sống của

chúng ta thêm sâu sắc và có ý nghĩa hơn. Khi chúng tôi theo đuổi ước mơ, chúng tôi cảm thấy được sức mạnh. Từ sức mạnh này, chúng tôi liên kết với nhau để cùng thực hiện một giấc mơ lớn. Giấc mơ ấy cho chúng tôi sức mạnh để vượt qua những thách thức, nó thúc đẩy chúng tôi chia sẻ niềm vui và hạnh phúc cho những người khác. Cuối cùng, sức mạnh của giấc mơ ấy là khả năng tạo ra những ý tưởng công nghệ cách mạng.
- Honda khuyến khích tất cả các thành viên cùng liên kết với nhau để theo đuổi ước

mơ của họ. Đó là lý do tại sao chúng tối nói rằng Honda là một công ty xây dựng trên những giấc mơ. Sức mạnh từ những giấc mơ của Honda sẽ tiếp tục dẫn đến những hiểu biết mới về công nghệ ô tô, xe máy, các sản phẩm điện, và robot công nghệ thế hệ mới. 3. Soichiro Honda- ông tổ của vương quốc Honda: Soichiro Honda sinh năm 1906 tại thị trấn Komyo, cách Thủ đô Tokyo 270km. Ông không được học hành nhiều. Ngay từ bé đã phải phụ giúp cha trong một tiệm sửa xe đạp của gia đình. Năm 15 tuổi, Honda lên thủ đô để tìm việc làm. Ông được nhận vào tập sự trong một ga-ra, nhưng người ta lại giao cho công việc của người giữ trẻ. Nản chí, Honda trở về quê, nhưng 6 tháng sau được gọi lại. Lần này ông quyết chí ở lại Tokyo đến 6 năm để trở thành người thợ sửa xe ô tô lành nghề. Năm 22 tuổi Honda về lại Komyo và mở tiệm sửa xe cho riêng mình.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 2

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Năm 1937, Honda mở rộng việc kinh doanh sang sản xuất bạc pít-tông và lập Hãng công nghiệp nặng Tokai Seiki (TSHI). Tuy nhiên, vì chưa được học hành đàng hoàng nên Honda ghi danh vào học Trường Kỹ thuật Hama -Matsu. Thế nhưng việc học của ông cũng thật khác người, Honda chỉ quan tâm đến những môn có liên quan đến bạc pít-tông, ngoài ra chẳng chịu ghi chép các môn khác và bỏ cả dự thi. Soichiro Honda là người có cá tính độc lập, không tuân thủ theo những nguyên tắc kinh doanh truyền thống của Nhật mà hành động theo lối suy nghĩ riêng của mình, ông đã biến một tiệm sửa chữa nhỏ thành một công ty chế tạo môtô và xe hơi có giá trị hàng tỷ đô la Mỹ. Cách đây 58 năm, Soichiro đã bắt đầu sự nghiệp kinh doanh tài ba của mình để trở thành nhà sản xuất xe máy lớn nhất thế giới. Tháng 10/1946, Soichiro thành lập một cơ sở nghiên cứu, chế tạo xe máy mang tên “Honda Technical Research Institute”. Đó chính là doanh nghiệp một người của Soichiro. Ông vừa là chủ, vừa là người nghiên cứu, vừa là thợ và cũng là người bán xe. Cơ sở vật chất ban đầu của Soichiro cũng chỉ có một nhà kho bằng gỗ rộng 24 mét vuông để chế tạo những chiếc xe mô tô từ xe đạp và những động cơ máy 50 phân khối. Để chuẩn bị cho công ty của mình, Soichiro đã đi lùng sục khắp thị trấn nhỏ của mình để mua lại tất cả các động cơ hai kỳ đã hỏng. Lúc đó người ta nghĩ ông chỉ là một kẻ nghèo khó, chuyên sống bằng nghề buôn bán đồng nát, sắt vụn. Thế rồi cả thị trấn nhỏ coi ông như một người điên khi thấy Soichiro bỏ ra cả một bó tiền Yên không ít để mua lại một lúc 500 động cơ của một đơn vị quân đội. Khi đó, Soichiro Honda cảm thấy may mắn vô cùng. Ông đã có cái mà ông đang tìm. Người đàn ông 40 tuổi khi đó rất tự tin về những việc mình muốn làm và quyết tâm làm bằng được. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cả nước Nhật chỉ là tro tàn và đổ nát. Với kế hoạch hỗ trợ Marshall, nền kinh tế nước này được phục hồi rất nhanh. Thế nhưng lúc đó phương tiện giao thông lại thiếu trầm trọng. Với đa số người dân và các doanh nghiệp nhỏ, họ đang cần rất gấp những phương tiện đi lại có động cơ nhưng phải gọn nhẹ, tiện lợi và tương đối rẻ tiền. Để đáp ứng được nhu cầu này, Soichiro đã có một giải

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 3

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
pháp độc đáo là lắp thêm một chiếc động cơ nhỏ để có thể đi nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn. Sáng kiến và sản phẩm của Soichiro đã được hưởng ứng mãnh liệt. Từ đó cơ sở chế tạo xe máy của Soichiro Honda luôn sôi động và phát triển không ngừng. Năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy. Ông là một thiên tài sáng chế:
- Không được học hành đến nơi đến chốn nhưng Soichiro Honda được thừa nhận là

một thiên tài sáng chế kỹ thuật. Kể cả từ lúc hàn vi cho đến khi trở thành ông chủ tịch tôn kính của Tập đoàn Honda, Soichiro vẫn luôn tự coi là một nhà kỹ thuật trước hết. Là một con người của thực tiễn, ông say mê nghiên cứu chế tạo thử nghiệm các ý tưởng của mình. Trong một chiếc xe máy có không biết bao nhiêu chi tiết sáng chế mới thuộc về ông. Từ chiếc khung xe, động cơ, kiểu dáng cho đến công thức hỗn hợp xăng pha dầu để động cơ chạy một cách tốt nhất đều được Soichiro Honda nghĩ ra.
- Một sản phẩm quan trọng là Soichiro Honda đã thiết kế thành công loại xe Honda

“Dream D” - kiểu xe hoàn chỉnh nhất lúc bấy giờ. Khung xe được thiết kế có đủ độ cong cần thiết và đủ độ cứng để tải được loại động cơ 98 phân khối. Honda “Dream D” vượt trội hơn các loại xe khác ở rất nhiều yếu tố kỹ thuật.
- Thế nhưng thị trường vẫn không chấp nhận chỉ vì một lẽ: động cơ của “Dream D”

rất khoẻ nhưng lại kêu quá to. Phát hiện ra vấn đề này, Soichiro Honda đã kịp thời cải tiến và cho ra đời “Dream E” khắc phục được nhược điểm trên. Kể cả với động cơ 146 phân khối, xe máy Honda “Dream” vẫn không gây ồn. Máy khoẻ, gọn, nhẹ và không ồn là những ưu thế của xe Honda lúc bấy giờ. Ngoài ra Honda còn có một ưu điểm nữa mà không một loại xe máy nào lúc đó làm được là, xe không bao giờ bị chảy dầu, bởi các chi tiết được sản xuất một cách chính xác đến hoàn hảo. Cũng bắt đầu từ đây, các sản phẩm xe máy Honda nhanh chóng chinh phục thị trường Nhật một cách nhanh không ngờ.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 4

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
- Suốt thời gian Soichiro Honda làm chủ tịch, các chuyên gia đã nhận định rằng điểm

mạnh nhất cũng là điểm yếu nhất của Honda chính là sự say mê, theo đuổi đến cùng với các ý tưởng táo bạo của ông. Khi trong đầu xuất hiện một ý tưởng mới, ông quyết tâm thử nghiệm bằng được và thử nghiệm gần như bằng mọi giá. Nhiều khi ông quên mất cả yếu tố kinh tế của vấn đề. Soichiro Honda đã bỏ không biết bao nhiêu tiền để thiết kế loại động cơ được làm nguội bằng không khí để thay thế cho động cơ làm nguội bằng nước. Tưởng như Soichiro phải từ bỏ ý tưởng nếu như không muốn phá sản bởi thị trường không chấp nhận loại động cơ mới với chi phí cao hơn này. Nhưng ông đã gặp may khi luật môi trường Mỹ được ban hành và ông có cơ hội tiêu thụ sản phẩm mới tại thị trường này. Loại xe ô tô Honda Civic trong nhiều năm liền đã đem về doanh số kỷ lục cho tập đoàn. Kết quả làm việc là trên hết chứ không phải là bằng cấp. Soichiro Honda làm việc không mệt mỏi và ông cũng đã truyền được tinh thần đó cho mỗi người làm tại Tập đoàn Honda. Những thành công buổi đầu của Honda: - Chinh phục thị trường trong nước:
+ Tháng 10 năm 1949: Fujisawa chính thức gia nhập Công ty Nghiên cứu kỹ thuật

công nghiệp Honda. Công ty nằm tại thủ đô Tokyo, Honda chịu trách nhiệm về kỹ thuật, còn Fujisawa lo tiếp thị và kinh doanh. Loại xe máy Dream thể hiện giấc mơ chinh phục thương trường của ông. Honda ký hợp đồng bán toàn bộ sản lượng động cơ xe máy cho Công ty Kitagawa. Nhưng mỗi tháng Honda sản xuất được 100 động cơ, trong khi Kitagawa chỉ sản xuất được 50 đến 80 chiếc xe, gây tắc nghẽn cho chu trình sản xuất và bị ứ đọng về tiền vốn. Để bảo đảm tài chính cho công ty, Honda cắt hợp đồng với Kitagawa, và thay bằng những hợp đồng cung cấp thành phẩm cho các đại lý phân phối.
+

Công ty Honda đã thu được kết quả ngoài mong đợi với loại xe Cub, cho phép khách hàng lựa chọn mua máy xe để lắp vào xe đạp hoặc mua trọn một chiếc xe

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 5

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
gắn máy. Chỉ trong vòng chưa được 1 năm, công ty bán được 6.500 chiếc Cup mỗi tháng, chiếm 70% thị phần xe gắn máy tại Nhật. + Honda không dừng lại đó, ông tiếp tục con đường tìm tòi, sáng tạo để nâng cao chất lượng sản phẩm và làm ra những mẫu mã mới. Ông đi khắp thế giới để nghiên cứu thị trường. Ông dự và ghi chép đầy đủ về các cuộc đua xe. Sau đó Honda thành lập đội đua xe của mình vào năm 1954. Thành công trong đua xe gắn máy đã đưa tiếng tăm của công ty vang dội khắp nơi, tăng thêm giá trị của thương hiệu.
+ Năm 1959 là năm trọng đại của Honda: Công ty bắt đầu sản xuất đại trà Super

Cup. Loại xe mới này vừa ra đời đã thu hút được một số lượng lớn khách hàng. Chiếc Super Cub đã trở thành hàng nhanh chóng được ưa chuộng trong giới trẻ, những người chỉ muốn có một phương tiện đi lại cá nhân không đắt, tiện lợi để đi trong thành phố. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, Honda lập nhà máy sản xuất xe máy lớn nhất thế giới ở thành phố Suzuka, với công suất 30.000 chiếc mỗi tháng. Cũng năm 1959, đội Honda giành giải nhất trong cuộc đua Isle of Man (Anh) khi lần đầu dự giải. Thành công trên đường đua nhanh chóng giúp tăng doanh số: Honda dẫn đầu ở Nhật với 285.000 chiếc. Hai năm sau, Honda bán được 100.000 chiếc mỗi tháng. - Không ngừng vươn ra thế giới:
+ Năm 1959, Honda bắt đầu chiến lược vươn ra thế giới. Ông đặt đại lý đầu tiên ở

Mỹ. Thay vì bán qua hệ thống phân phối hiện có của Mỹ, Honda có một cách tiếp cận khác thường. Ông bán bất cứ nơi đâu mà ông cảm thấy thu hút được khách hàng. Lúc đó thị trường Mỹ mỗi tháng chỉ tiêu thụ được dưới 5.000 chiếc. Nhưng chỉ trong vòng hai năm, xe máy. Honda bán chạy nhất trong tất cả các thương hiệu tại Mỹ. Đến năm 1963, Công ty Honda bán được 7.800 chiếc, năm 1984 bán hơn 10 triệu chiếc Honda 50 phân khối.
+ Người ta có thể thấy xe máy Honda len lỏi khắp nơi trên các con đường tại Mỹ.

Sự thành công vượt bậc này là nhờ chất lượng của sản phẩm và một chiến dịch

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 6

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
quảng cáo tuyệt vời. Thay vì nhắm vào đối tượng mê xe truyền thống, Honda dùng khẩu hiệu: “Bạn gặp những người dễ thương nhất trên một chiếc Honda”. Chiến lược này nhắm vào thị trường gia đình và đã thu được thành công rực rỡ. + Sau khi đã chiếm lĩnh thị trường xe máy, Honda bắt đầu sản xuất ô tô. Nhưng ông đã gặp phải một số cản trở từ chính quyền Nhật, nhất là Bộ Ngoại thương và Công nghiệp Nhật (MITI). Vì lúc đó Nhật đã có khoảng 10 hãng và định gom lại thành hai hãng lớn có tầm cỡ quốc tế. Bất chấp khuyến nghị của Chính phủ, Honda tung ra kiểu xe thể thao S360. Honda tham gia vào cuộc đua xe Thể thức 1 vào đầu thập niên 1960. Đến năm 1965, đội Honda đoạt giải nhất trong cuộc đua Giải thưởng Lớn Mexico, và năm tiếp theo lại giành tiếp những giải thưởng lớn trong cuộc đua Thể thức 2. Cũng giống như xe máy, sau các giải thưởng này, ô tô Honda bắt đầu chinh phục thị trường xe ô tô thế giới. Năm 1980, trong các công ty được sáng lập ra sau chiến tranh ở Nhật Bản, Công ty Honda đã trở thành lá cờ đầu của những xí nghiệp mới được xây dựng. Cuối thế kỷ 20, Honda là nhà sản xuất ô tô số một thế giới. Hiện nay, Honda là hãng xe máy lớn nhất và hãng ô tô xếp thứ 9 trên thế giới.
4. Sản phẩm chính của Honda:

 Ô tô:

Accord

Civic

Hãng bắt đầu sản xuất xe hơi vào năm 1960 với dự định dành cho thị trường Nhật Bản là chủ yếu. Dù đã tham dự nhiều cuộc đua xe máy quốc tế nhưng xe hơi của hãng vẫn

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 7

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
rất khó bán được ở Mỹ. Vì xe được thiết kế cho người tiêu dùng Nhật nên nó không thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng Mỹ.
 Civic:

Honda rồi cũng có chân trong thị trường xe hơi Mỹ vào năm 1972 khi giới họ thiệu xe Civic lớn hơn những kiểu xe trước đó nhưng vẫn nhỏ hơn những loại xe theo tiêu chuẩn Mỹ. Trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 70 ảnh hưởng đến nền kinh tế trên toàn thế giới. Luật mới về chất thải ở Mỹ yêu cầu các nhà sản xuất xe hơi Mỹ phải gắn thêm bộ phận chuyển đổi chất xúc tác đắt tiền vào hệ thống xả, điều này làm giá xe tăng. Tuy nhiên khi Honda giới thiệu chiếc Civic đời 1975 với động cơ CVCC (Compound Vortex Controlled Combustion) động cơ này đáp ứng được yêu cầu về khí thải, nên nó không cần lắp bộ phận xúc tác khí thải nữa, đây chính là yếu tố cạnh tranh của Honda Civic.
 Accord:

Năm 1976, xe Accord ngay lập tức được mọi người biết đến với đặc điểm tốn ít năng lượng và dễ lái; Honda đã tìm được chỗ đứng ở Mỹ. Năm 1982, Honda là nhà sản xuất ôtô Nhật Bản đầu tiên xây dựng nhà máy sản xuất xe hơi ở Mỹ, bắt đầu với nhà máy sản xuất xe Accord ở Marysville. Đến nay, hãng đã có bốn nhà máy sản xuất xe ở Ohio: 2 ở Marysville (nhà máy tự động Marysville và nhà máy sản xuất xe gắn máy Marysville), Anna, và Đông Liberty. Hãng còn có các nhà máy ở Lincoln, Alabama (Honda Manufacturing of Alabama), và Timmonsville, South Carolina, và gần đây (2006) Honda đã mở một nhà máy mới ở Tallapoosa, Georgia. Honda mở rộng thêm sau khi có thị phần.
 Accura:

Honda là nhà sản xuất tự động đầu tiên của Nhật giới thiệu nhiều dòng xe sang trọng riêng biệt. Dòng xe Accura ra đời vào năm 1986 đã tạo nên nhiều kiểu xe Honda mạnh hơn và mang tính thể thao hơn so với những loại xe Honda khác.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 8

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
 CR-V:

CR-V thế hệ thứ 3 hoàn toàn mới trình làng ngày 7/4/2007 có giá 24.905- 30.346 USD và được nhập khẩu từ Thái Lan. Kể từ mẫu thể thao đa dụng nổi tiếng của Honda đã có mặt từ thế hệ thứ nhất, năm 1997. Sau khi gặt hái thành công đáng kể, Honda quyết định tung ra tiếp CR-V thế hệ thứ ba với những cải tiến cả về kiểu dáng và công nghệ, biến nó thành một trong những mẫu crossover bán chạy nhất tại Mỹ, Nhật Bản và sắp tới có thể là Philippines. CR-V 2007 có vóc dáng thể thao hơn với thiết kế theo kiểu ca-bin kéo dài trong khi cửa mang phong cách như trên dòng xe coupe. Phần mũi CR-V cứng cáp nhờ bộ lưới tản nhiệt hình chữ H đặc trưng của Honda. CR-V có rất ít các giao tuyến thẳng, thay vào đó là các đường cong nên nó càng "mập mạp" hơn. Bộ ba-đờ-sốc to và hầm hố khi đi cùng bộ đèn pha hoành tráng. Không gian nội thất CR-V mới không rộng hơn so với phiên bản cũ tuy dung tích chở đồ có tăng đôi chút do Honda giấu bánh dự phòng xuống phía sau. Các cảnh cửa có kích thước lớn hơn, giúp mở rộng khả năng quan sát từ phía trong. Nét mới ở nội thất CR-V là các tấm kim loại trên mặt táp-lô, tương phản rõ nét với những mảng da mềm màu đen. Hàng ghế trước rộng và êm ái, cần số được dịch chuyển vào gần người lái nên thao tác dễ dàng và tăng diện tích sàn. Ghế lái CR-V có thể điều chỉnh 8 tư thế
 Xe máy :

1952 : Honda bắt đầu sản xuất xe gắn máy. 1955: Honda trở thành tập đoàn sản xuất xe gắn máy hàng đầu tại Nhật Bản. Honda bắt đầu sản xuất từ xe máy tới xe tay ga. Soichiro Honda nhanh chóng phục hồi lại công ty sau những thua lỗ trong thời chiến. Cuối thập niên 1960, Honda chiếm lĩnh

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 9

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
thị trường xe máy thế giới. Đến thập niên 1970 công ty trở thành nhà sản xuất xe máy lớn nhất thế giới và từ đó đến nay chưa bao giờ để mất danh hiệu này.
 Bổ sung lối sống của khách hàng trong từng khu vực:

Kể từ khi sản xuất và bán xe gắn máy của nó sản xuất hàng loạt đầu tiên, Dream D, năm 1949 sản phẩm, Honda đã đề nghị rằng làm phong phú thêm phong cách sống của khách hàng trên toàn thế giới. Honda đã được sản xuất xe máy trong hơn 60 năm, là nhà sản xuất xe máy hàng đầu thế giới về số đơn vị bán ra, và đã sản xuất tổng số tích lũy là 200 triệu xe máy vào năm 2008. Honda cũng là một nhà lãnh đạo trong nội địa hóa của nghiên cứu, sản xuất và phát triển. Nó hiện đang sản xuất các sản phẩm ở 30 cơ sở sản xuất tại 21 nước trên toàn thế giới và đã thành lập trung tâm R & D ở Mỹ, Đức, Ý, Thái Lan, Trung Quốc và Ấn Độ.Trong mỗi quốc gia, phát triển xe máy được thiết kế để đáp ứng đặc điểm thị trường khu vực và thị hiếu của khách hàng.
 Tăng cường sự thuận tiện và hiệu suất môi trường:

Honda luôn nỗ lực để hài hòa niềm vui của cưỡi và trách nhiệm môi trường và đang làm việc về nghiên cứu và phát triển những nỗ lực để cải thiện sự tiện lợi và hiệu suất sinh thái của các sản phẩm của mình. Trong tháng 9 năm 2009, Honda đã phát triển đầu tiên của thế giới xe gắn máy hoàn toàn tự động ly hợp kép truyền, mang kiểu dáng thể thao cưỡi hưởng thụ cũng như các hoạt động dễ dàng và tiết kiệm nhiên liệu mà đối thủ cạnh tranh hoặc vượt qua các truyền dẫn sử dụng thông thường. Honda cũng phát triển một mã truyền CV-Matic mới để sử dụng với động cơ Cub.Điều này hoàn toàn tự động truyền nâng cao dễ dàng sử dụng các mô hình Cub, trong đó có chiến thắng triệu người hâm mộ trên toàn thế giới. Ngoài ra để thuận tiện cung cấp, Honda sẽ cung cấp các sản phẩm có hiệu suất môi trường ngày càng cao hơn cho khách hàng nhiều hơn ở khắp mọi nơi.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 10

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda

VFR1200F  Sản phẩm công nghệ: Robot - Asimo:

Ware110i

PCX

Năm 1986, Tập đoàn Honda bắt đầu một chương trình phát triển robot giống người. Người máy thế hệ đầu tiên là E0 di chuyển nhờ đưa một chân lên trước rồi kéo chân kia theo nhưng E0 phải mất 5 giây cho mỗi bước đi và chỉ có thể thực hiện đi theo một đường thẳng. Các thế hệ người máy sau đó của Honda là E1, E2, E3 đã được cải tiến và có thể bước đi khá nhanh với vận tốc 1,2 km/giờ trên những bề mặt bằng phẳng. Từ năm 1991-1993, Honda liên tục đưa ra các mẫu người máy E4, E5, E6 có thể đi vững chắc thậm chí trên bậc thang hay những mặt dốc. Mặc dù E6 được coi là một thành công lớn của Honda nhưng E6 có điểm yếu là quá to, cồng kềnh. Các thế hệ người máy tiếp theo là P1, P2, P3 được ra đời với trọng lượng nhỏ hơn chỉ còn cao 1,6m với trọng lượng 130 kg. Tuy nhiên, ngay cả đối với P3, việc đi lại của robot cũng chưa được linh hoạt, nếu robot đang đi thẳng mà rẽ phải hoặc trái thì rất ngượng nghịu. Cú đột phá – ASIMO Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 11

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Ngày 31/10/2000, 14 năm sau ngày chế tạo robot đầu tiên, Honda cho ra mắt một loại robot mới với các đặc điểm mang tính đột phá về công nghệ: người máy mang tên ASIMO (Advanced Step in Innovative Mobility). ASIMO chỉ cao có 1,2m, nặng 52 kg, tốc độ di chuyển có thể đạt tới 1,6 km/giờ. ASIMO được phát triển với kỹ thuật IWALK, kỹ thuật này giúp ASIMO là người máy đi lại nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh hơn bất cứ một thế hệ người máy nào trước đây. ASIMO có thể bước chéo, nhảy múa, leo cầu thang, đứng một chân tiến và lùi... Nhờ có các khớp nối cổ, khớp nối tay giống con người, các cử động tay và cổ tay của ASIMO cũng rất linh hoạt. Bàn tay của ASIMO có 5 ngón và có thể nắm chặt 5 ngón tay cùng một lúc, bắt tay, chỉ đường, gật đầu, lắc lư đầu, nghiêng đầu lên xuống khoảng 45%... Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất làm ASIMO trở thành người máy thông minh, giống người số 1 trên thế giới - đó là ASIMO có thể thực hiện các cử chỉ, biểu lộ giống như con người: khóc, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên, khoái chí...
 Máy bay phản lực:

Honda Zet mới tung ra thị trường từ ngày 18/10 nhưng đã được giới chuyên môn đánh giá là chiếc máy bay phản lực nhanh nhất và tiết kiệm nhiên liệu nhất. So với các máy bay cùng loại, nó bay được 420 hải lý và giảm được 30-35% nhiên liệu về khả năng vận hành. Không những thế, nó còn đạt tiêu chuẩn về sự tiện nghi và không gian nội thất rộng rãi. Trong các lần bay thử nghiệm, HondaJet có thể đạt vận tốc tối đa ở mức 780km/h và đạt độ cao trên 13.100km.Buồng lái (cabin) của Honda Zet dài hơn khoảng 1 feet so với cabin của các loại máy bay nhẹ có kích thước lớn hơn. Đồng thời, Honda Zet có một khu vệ sinh hoàn toàn riêng biệt với độ rộng khoảng 57 feet khối cùng với khoang chứa hàng hóa ở phía đuôi máy bay.Với những đặc điểm nổi bật trên, Honda Zet đã nhanh chóng được

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 12

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
ưa chuộng tại Nhật Bản, giá 3,65 triệu USD. Liên tiếp các đơn mua hàng từ nhiều vùng trong cả nước đổ về Hiệp hội ngành hàng không quốc gia Nhật Bản (NBAA). Năm 2010, Honda Zet sẽ được tiến hành sản xuất tại Mỹ. Nó được giới thiệu như một loại máy bay phản lực có công nghệ mới, đánh dấu sự sáng tạo khác biệt đối với máy bay truyền thống. Tập đoàn chế tạo ôtô Honda cho biết, hãng này sẽ đưa vào sản xuất đại trà loại máy bay phản lực mang tên HondaJet từ năm 2012 tại thị trường Mỹ với giá thành khoảng 4,8 triệu USD. 5. Triết lí kinh doanh của tập đoàn Honda: Nguyên tắc cơ bản nhất trong triết lý kinh doanh của tập đoàn Honda là quan tâm đến từng cá nhân. Sự quan tâm đó thể hiện ở 3 niềm vui chính mà theo Honda chính là mua, bán và sáng tạo. Dựa trên nguyên tắc cơ bản ấy, khi bắt đầu tấn công thị trường nước ngoài (đặc biệt là thị trường Mỹ), Honda đã đưa ra câu khẩu hiệu “Bạn gặp những người dễ mến nhất tại Honda” nhằm đưa một doanh nghiệp châu Á trở nên khác biệt và gần gũi hơn với thị trường phương Tây. Và khẩu hiệu này đã minh chứng sự thành công của nó bằng việc Honda thâm nhập thành công vào thị trường Mỹ và có số lượng tiêu thụ xe và doanh thu đáng kinh ngạc tại thị trường này. Văn hóa kinh doanh của Honda tập trung vào hai yếu tố:
 Tôn trọng con người. Mỗi con người được sinh ra là một cá thể tự do, không ai

giống ai, với khả năng tư duy, lập luận sáng tạo và khả năng mơ ước. Tôn trọng con người đòi hỏi Honda khuyến khích và phát triển những đặc tính này trong công ty bằng việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá thể và tin tưởng lẫn nhau như những người cộng sự bình đẳng.
 Niềm vui cho những người mua sản phẩm (Niềm vui mua hàng), niềm vui cho

những người bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ (niềm vui bán hàng) và niềm vui cho những người sáng tạo ra sản phẩm (niềm vui sáng tạo). II. Phân tích chiến lược kinh doanh đa nội địa:

1. Phân tích về sức ép giảm chi phí:

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 13

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Sức ép giảm chi phí của Honda thấp với những lý do sau: Honda đã và đang vẫn giữ vai trò là hãng xe máy lớn nhất thế giới và đồng thời cũng là một trong 10 hãng ô tô dẫn đầu. Do đó, thương hiệu của Honda đã được khẳng định trong nhiều năm qua. Sức ép giảm chi phí là không quá lớn. Bởi lẽ định hướng của Honda là hướng đến người tiêu dùng với yếu tố cốt lõi làm nên thành công thương hiệu là chất lượng gắn liền với niềm tin khách hàng. Điều này được thể hiện ở chỗ Honda đầu tư rất nhiều vào công tác nghiên cứu chế tạo, hướng đến mục đích sản xuất ra những sản phẩm chất lượng ngày một tốt hơn, an toàn với người sử dụng và tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện với môi trường. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra qua sản lượng động cơ đốt trong do Honda sản xuất vẫn đang đứng đầu thế giới.  Sức ép cạnh tranh cao buộc Honda phải liên tục cải tiến công nghệ:
- Mặc dù danh mục xe của Honda được xếp hạng là có hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu cao

nhất tại thị trường Mỹ, nhưng mẫu Fiesta của Ford lại có mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình chỉ 7,1 lít/100km, so với mức 7,6 lít/100km của mẫu xe kinh tế nhất của Honda là Fit hatchback. Mẫu Sonata sedan mới của Hyundai cũng khá hơn Honda Accord về cả hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu lẫn công suất động cơ, Mới mẻ và ấn tượng, Hyundai Sonata thế hệ mới “lột xác” gần như toàn diện từ kiểu dáng thiết kế tới tính năng vận hành cũng như khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Vừa ra mắt, mẫu xe bán chạy nhất của Hyundai đã rất thành công tại thị trường Mỹ. Còn mẫu Hyundai Elantra hứa hẹn tiết kiệm nhiên liệu hơn Honda Civic. Doanh số của Honda tại Mỹ đã tăng 13,2% lên 487.282 xe trong 5 tháng đầu năm 2010, thấp hơn mức tăng trưởng trung bình 17,2% của ngành, theo số liệu Bloomberg tổng hợp. Trong khi đó, doanh số của Ford tăng 31,3%, còn Hyundai tăng 22,7% cùng kỳ.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 14

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda

Sonata(Hyundai)

Honda CR-Z

- Nhà sản xuất ô tô lớn thứ 2 Nhật Bản vẫn còn đang “chìm đắm” với hộp số tự động 5

cấp, trong khi toàn ngành đã chuyển sang hộp số 6 cấp giúp giảm mức tiêu thụ nhiên liệu. Điều này, theo chuyên gia phân tích ngành ô tô Ed Kim của công ty AutoPacific Inc. ở Tustin, California, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh Honda trong lĩnh vực tiêu thụ nhiên liệu. Mở rộng dòng xe hybrid không nằm trong chiến lược của Honda. Hãng dự kiến cho ra mắt một thế hệ xe Civic hybrid mới sử dụng hệ thống pin lithium-ion có khả năng tích trữ gấp đôi điện năng so với pin nickel- metal hydride, theo lời ông Kawanabe. Honda cũng sẽ ra mắt một phiên bản hybrid mới của xe Fit trong năm nay. Các xe Insight và Civic hybrid của Honda vẫn chưa bắt kịp Toyota Prius, mẫu xe hybrid bán chạy nhất thế giới. Xe Prius bán chạy hơn Insight với tỷ lệ 6-1 tại Mỹ tính đến hết tháng 5 năm nay. Một trong các lý do có thể là hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu. Xe Prius của Toyota chỉ tiêu thụ 4,6 lít xăng cho 100 km chạy trong thành phố, trong khi xe Honda Insight ngốn tới 5,9 lít. Phó chủ tịch Koichi Kondo của Honda cũng thừa nhận rằng mẫu Insight nếu so với Prius có thể kích thước quá nhỏ so với khổ người Mỹ. - Honda đang khai thác công nghệ dừng-khởi động (Stop-start), hệ thống tăng áp và hộp số vô cấp CVT để tăng hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu cho các xe. Honda cũng đang nghiên cứu phát triển ô tô chạy điện, nhưng có vẻ thiếu lạc quan về tiềm năng thị trường hơn Nissan. Honda cho biết công ty thích phát triển ô tô chạy hydro hơn là xe chạy hoàn toàn bằng điện. Bên cạnh đó, Honda đã dừng sản xuất NSX, mẫu xe sản xuất thương mại nhanh nhất của hãng, vào năm 2005. Hãng từng dự kiến giới thiệu

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 15

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
trở lại mẫu xe này trong năm nay, nhưng sau đó huỷ bỏ để sản xuất mẫu xe hybrid thể thao CR-Z.
- Đi từ lí do trên, Honda phải thường xuyên phải thay đổi công nghệ để đáp ứng với

những nhu cầu của người tiêu dùng vốn luôn tin vào chất lượng của Honda. Bên cạnh đó, Honda xây dựng cho mình một ý tưởng chung là “Một phương tiện di chuyển chung cho toàn thế giới” và nguyên tắc phát triển sản phẩm của Honda là “Luôn cố gắng cung cấp sản phẩm đa dạng phong phú cho thị trường toàn cầu”. Các cải tiến vượt trội trong các sản phẩm của Honda bao gồm: • Tại Việt Nam, 2 mẫu xe Air Blade và CLICK của Honda Việt Nam đã được trang bị hệ thống phanh kết hợp CBS


Giải pháp dẫn động Cv matic, hệ thống van biến thiên VTEC, điều này làm cho xe dream vận hành như xe tay ga.

• PGM-FI phun nhiên liệu điện tử
 Tiết kiệm nhiên liệu cho các dòng tay ga, Future neo FI •

Người tiên phong trong lĩnh vực sản xuất ô tô, mô tô bảo vệ môi trường:

Ôtô Hybri hybrid của Honda là Civic hybrid và Insight, được người tiêu dùng trên toàn thế giới nhìn nhận là “ xe hybrid car, loại xe sinh học tiết kiệm nhiên liệu”


Làm mát bằng dung dich Những động cơ thông thường trước đây được chia làm 2 loại: Làm mát bằng

gió và Làm mát bằng dung dịch, mỗi loại có những ưu điểm khác nhau. Trong những loại xe của Honda Việt Nam hiện nay thì có dòng Wave, Future Neo hay Super Dream là sử dụng hệ thống làm mát bằng gió cưỡng bức, còn Air Blade và Click được trang bị động cơ làm mát bằng dung dịch tích hợp. • Ống xả được trang bị bộ xúc tác chuyển đổi để giảm bớt lượng khí thải độc hại ra môi trường. • Cải tiến và sản xuất các loại động cơ 2 thì đáp ứng nhu cầu người sử dụng • Sản phẩm xe moto mới nhất PCX với cải tiến tiết kiệm xăng khi dừng đèn đỏ

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 16

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
• Sản xuất các động cơ diesel và xăng dầu phù hợp với các loại xe với kích cỡ và trọng lượng khác nhau
 Honda chịu sức ép cao từ môi trường:

- Các sản phẩm ô tô và xe máy của honda luôn luôn phải đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn cho cơ thể người sử dụng và đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường. - Thị trường châu Âu luôn có những đòi hỏi khắt khe về lượng khí thải của ô tô. Mặc dù phải đến tháng 9 năm 2009, những qui định về khí thải theo tiêu chuẩn Euro 5 mới được áp dụng rộng rãi cho các loại xe hơi ở châu Âu do những yếu tố liên quan đến giá thành. Tuy nhiên Honda vẫn quyết định trang bị cho Accord loại động cơ mới nhất, đáp ứng tiêu chuẩn này nhằm mang đến cho người dùng một chiết xe có hiệu năng cao và tiết kiệm nhiên liệu. Lựa chọn đầu tiên phải kể đến là loại động cơ diesel thế hệ thứ 2 được Honda nghiên cứu và phát triển. Với chất lượng vượt trội, được minh chứng bằng rất nhiều giải thưởng uy tín, động cơ i-CTDi sẽ mang đến một cái nhìn hoàn toàn mới về động cơ diesel, sự kết hợp hoàn hảo nhất giữa sức mạnh động cơ với tính năng tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện với môi trường.
- Bên cạnh đó, đối với dòng xe máy, các sản phẩm này thường có giá thành thấp

hơn ô tô và xả nhiều khí thải ra môi trường nhiều hơn. Đáp ứng yêu cầu về sức ép này, tại thị trường Việt Nam, gần 2,5 triệu xe máy các loại của Honda được bán ra luôn được khách hàng tín nhiệm không những bởi giá cả, chất lượng… mà còn thân thiện với môi trường. Các mẫu xe của Honda Việt Nam trước khi ra mắt trên thị trường đều được nghiên cứu kỹ lưỡng từ kiểu dáng đến màu sắc, chất lượng sao cho thích hợp với các đối tượng khách hàng khác nhau ở những vùng miền khác nhau. Đặc biệt, để sản phẩm trở nên thân thiện với môi trường hơn, ống xả xe máy do Công ty sản xuất được thiết kế theo tiêu chuẩn Honda toàn cầu, đảm bảo qui chuẩn cho phép về lượng khí thải, đặc biệt khí thải của xe máy không gây tác hại cho những người đi phía sau. Honda Việt Nam luôn quan tâm đến sức

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 17

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
khoẻ của khách hàng. Theo đó, tất cả các bộ phận của xe máy phải tuân theo những qui định khắt khe về môi trường và đảm bảo thân thiện với môi trường. Honda không sử dụng chất amiăng để chế tạo má phanh vì chất này là tác nhân gây ung thư phổi.Honda Việt Nam luôn cố gắng trong việc tạo ra các sản phẩm có tính năng kinh tế cao. Hiện nay, sản phẩm của Honda Việt Nam luôn thuộc các sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu nhất trên thị trường xe máy. Trong tương lai, Honda Việt Nam sẽ áp dụng công nghệ phun xăng trong sản xuất xe máy. Công nghệ này sẽ mang đến rất nhiều tiện ích cho khách hàng trong việc tiết kiệm nhiên liệu. Đặc biệt, với ưu điểm nổi bật của động cơ đốt trong sẽ giảm đi rất nhiều lượng khí thải ra ngoài môi trường.
2. Sức ép đáp ứng nhu cầu địa phương:

 Phù hợp với đặc điểm của từng địa phương: Mỗi quốc gia hay mỗi khu vực thì thị hiếu tiêu dùng xe đều khác nhau, do đó Tập đoàn Honda luôn có những chiến lược và các dòng sản phẩm phù hợp với sở thích cũng như các yêu cầu kĩ thuật ở từng thị trường tiêu thụ của mình. Honda dựa vào các đặc điểm văn hóa, cũng như các nhu cầu của khách hàng thì thị trường tiêu thụ của Honda trên thế giới được chia thành 4 khu vực cơ bản: • Honda Châu Á: Khu vực châu Á là nơi xe máy được sử dụng như là phương tiện chính để vận chuyển hàng ngày. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng , Honda đã nhanh chóng thiết lập các nhà máy sản xuất xe gắn máy được đặt tại 8 quốc gia. Trong năm 2009, lượng xe máy sản xuất đạt 17 triệu đơn vị ở Thái Lan, 25 triệu tại Indonesia, và 30 triệu ở Ấn Độ..Honda đang tăng cường sản xuất trong nước của xe ô tô và các sản phẩm năng lượng ở châu Á, nơi mà các mô thị trường ngày càng tăng nhanh,và cung cấp một số linh kiện ô tô ra thị trường nước ngoài. • Honda Bắc Mỹ: Năm 1979, Honda bắt đầu sản xuất xe máy tại Mỹ, và bắt đầu sản xuất ô tô năm 1982. Honda đã tiếp tục mở rộng các cơ sở sản xuất xe máy và xe ô tô ở Mexico, Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 18

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Canada, và Hoa Kỳ. Năm 2009, đánh dấu kỷ niệm 30 năm bắt đầu sản xuất của Honda đạt 20 triệu đơn vị ở Bắc Mỹ. Trong năm 2009, hơn 80 phần trăm xe ô tô được bán ở Mỹ được sản xuất tại Bắc Mỹ. Tại Bắc Mỹ, Honda cung cấp các mẫu mã đa dạng để đáp ứng nhiều nhu cầu khách hàng,từ dòng xe hạng sang Acura được thành lập năm 1987 đến các mẫu xe khác của Honda phát triển riêng cho thị trường này..Ngoài ra còn có các dòng sản phẩm khác như xe đạp thể thao lớn, ngoài đường xe đạp, ATVs (tất cả các loại xe địa hình), và cá nhân của tàu thuyền. • Honda châu Âu-Phi: Honda bắt đầu sản xuất tại thị trường châu Âu năm 1963 tại nhà máy Honda Bỉ. Sau đó là tại Ý và Tây Ban Nha (năm 1976 và 1986), với sản phẩm đầu tiên là Honda Cup 50 và hiện tại chủ yếu là xe máy thể thao mô hình, và xe máy phân khối lớn. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường châu Âu cho dòng xe nhỏ, Honda bắt đầu sản xuất các Jazz (được gọi là Honda Fit tại Nhật Bản) tại châu Âu năm 2009. Honda sẽ tiếp tục tăng cường hệ thống sản xuất của mình ở châu Âu để đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm cá nhân. Nhằm tiếp tục mở rộng kinh doanh ở châu Âu, Trung Đông và châu Phi, Honda phấn đấu để đáp ứng nhu cầu đó thay đổi tùy theo loại sản phẩm và quốc gia. Trong thị trường xe máy ,Honda ra mắt dòng xe thể thao VFR1200F trong năm 2009. Trong thị trường ô tô cao ý thức sinh thái cao của châu Âu, Honda phát hành Hybrid CR-Z vào tháng sáu năm 2010 sau sự ra mắt năm 2009 của Honda Insight Hybrid. Trong các thị trường Trung Đông và châu Phi, nơi mà các loại SUV nói chung được phổ biến, Honda ra mắt Accord Crosstour một CUV mới (Cross-over Utility Vehicle) Trong kinh doanh các sản phẩm điện, Honda là mở rộng mạng lưới bán hàng của mình cho lawnmowers và máy phát điện, là các sản phẩm có chất lượng cao và đảm bảo lượng khí thải môi trường tốt. • Honda Nam Mỹ: Tại Nam Mỹ, xe gắn máy nhỏ gọn được sử dụng cho đời sống hàng ngày và nhu cầu về xe ô tô đang mở rộng khi nền kinh tế khu vực phát triển. Honda đã được thúc Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 19

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
đẩy sản xuất địa phương để đáp ứng những yêu cầu này.Honda đã thành lập Moto Honda da Amazonia để sản xuất xe máy vào năm 1975 và Honda Automoveis do Brasil Ltda sản xuất xe ô tô vào năm 1996. Tính đến tháng tám năm 2007, lượng tích xe máy Honda sản xuất tại Nam Mỹ đạt 10 triệu đơn vị. Trong những năm gần đây, Honda đã sản xuất và bán các phiên bản Civic và Fit chạy trên nhiên liệu sử dụng nhiên liệu ethanol sinh học, được phổ biến ở Brazil. Honda sẽ tiếp tục tăng cường cơ sở sản xuất Nam Mỹ thông qua phát triển củng như xây dựng một nhà máy ô tô mới ở Argentina, nơi mà nhu cầu về xe ô tô dự kiến sẽ tăng lên.
 Sự khác biệt về thị hiếu và sở thích khách hàng: •

Với người Mỹ, xu hướng tiêu dùng của họ về xe otô là những dòng xe có dung

tích xi lanh lớn với kiểu dáng hầm hố và cá tính như cadilac, camaro hay những dòng xe bán tải pickup đa năng. Đây là những dòng xe có mức tiêu thụ nhiên liệu lớn.


Khác với người Mỹ ,người Châu Âu thích những dòng xe gia đình nhỏ nhắn tiết

kiếm nhiên liệu với dung tính xi lanh không quá lớn vì Châu Âu là khu vực có những quy định khắt khe nhất với các tiêu chuẩn về độ an toàn , tiết kiệm nhiên liệu và khí thải môi trường.


Còn đối với người Châu Á, họ cũng giống như người Châu Âu ở điểm yêu thích

sự nhỏ nhắn với giá cả tương đối,đặc biệt là các ưu tiên về tiết kiệm nhiên liệu. Sự thay đổi động cơ và kiểu dáng của Honda ở dòng Accord:  Honda Accord Tourer dành cho thị trường Châu Âu: Ngày 11 tháng 2 năm 2010, Honda đã công bố những thông tin và hình ảnh về mẫu xe Accord mới dành cho thị trường châu Âu với 2 phiên bản Sedan và Tourer. Phong cách thiết kế mới mang lại cho Accord dáng vẻ thể thao, thân xe khỏe khoắn, kết cấu linh hoạt và được trang bị những tính năng an toàn hiện đại nhất. Là nhà sản xuất ô tô đi đầu trong lĩnh vực môi trường, Honda mang đến cho Accord loại động cơ mới đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 5. Thị trường châu Âu luôn có những đòi hỏi khắt khe về lượng khí thải của ô tô. Mặc dù phải đến tháng 9 năm 2010, những qui định về khí thải theo tiêu chuẩn Euro 5

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 20

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
mới được áp dụng rộng rãi cho các loại xe hơi ở châu Âu do những yếu tố liên quan đến giá thành. Tuy nhiên Honda vẫn quyết định trang bị cho Accord loại động cơ mới nhất, đáp ứng tiêu chuẩn này nhằm mang đến cho người dùng một chiết xe có hiệu năng cao và tiết kiệm nhiên liệu. Về kỹ thuật, động cơ diesel 4 xy-lanh i-DTEC 2.2L công suất 150 mã lực được cải tiến để giảm hao tổn do ma sát bên trong, từ đó tăng hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu và giảm khí thải. Hiện Honda chưa công bố thông số cụ thể nhưng cho biết bản sedan với hộp số sàn 6 cấp giảm được 9 g/km khí thải CO2, còn với số tự động giảm 11 g/km. Cải tiến tính khí động học, giảm ma sát ở bạc đạn bánh xe cũng giúp cải thiện hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu.  Honda Accord dành cho thị trường Bắc Mỹ:

Honda Accord Crosstour sẽ chính thức có mặt tại các đại lý ở Mỹ vào ngày 20/11 tới, với 2 phiên bản: EX và EX-L, cả hai đều được trang bị động cơ V6 i-VTEC 3.5L công suất 271 mã lực tại vòng tua 6.200 vòng/phút và mô-men xoắn 254 lb-ft. tại 5.000 vòng/phút. Theo số liệu của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA), mẫu crossover mới này của Honda có mức tiêu thụ nhiên liệu là 8,7 lít/100km đường trường và 13,1 lít/100km trong thành phố với hệ dẫn động cầu trước.  Khác biệt về nhu cầu của chính phủ sở tại:


Tại Châu Âu, Australia- những nước phát triển, đưa ra tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường như các tiêu chuẩn Euro...Chính phủ Đức, Italia, Anh, Tây Ban Nha... đưa ra kế hoạch hỗ trợ người tiêu dùng “đổi xe cũ-mua xe mới”



Thị trường châu Phi với đặc điểm là đa phần là các quốc gia kém phát triển (ngoài trừ 1 số nước như Nam Phi hay Maroc…). các quốc gia ở đây không có những quy

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 21

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
định về môi trường và độ an toàn ngặt ngèo như ở Châu Âu hay các quốc gia khác. Sự phát triển gần đây của thị trường Châu Phi mang lại nhiều hệ quả đáng chú ý.


Tại các nước Trung Đông: do thu nhập cao từ dầu mỏ, chính phủ hỗ trợ giá nhiên liệu nên khác với Mỹ và Châu Âu, thị trường này lại ưa chuộng các loại xe thể thao, sang trọng, tốn nhiên liệu. việc giá dầu phá kỷ lục chỉ khiến lượng xe cao cấp như Rolls-Royce, Bentley cùng các loại xe ngốn xăng như Hummer xuất hiện hơn trong khu vực này  Khác biệt về cấu trúc hạ tầng:

• •

Tại Châu Âu: chính sách thông thoáng của chính phủ và hệ thống giao thông thông suốt, hiện đại. Tại Châu Á: Như Việt Nam, với cơ sở hạ tầng còn yếu kém,nạn kẹt xe trở thành vấn đề với chính phủ do đó chính phủ Việt Nam đã quy định về xe rất chặt chẽ, dùng các loại thuế với mục đích hạn chế lượng xe cộ, tiếng ồn và ô nhiễm môi trường ở quốc gia này Cao Sức ép giảm chi phí

Chiến lược đa nội địa Thấp Thấp Sức ép đáp ứng địa phương Cao

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 22

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Kết luận: Bằng chiến lược đa nội địa Tập Đoàn Honda luôn cố gắng thay đổi củng như phát triển đưa ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của người dân trong từng thị trường của mình. Chính việc này đã tạo nên một công ty thành công trong mắt người tiêu dùng thế giới với Honda là một công ty có sản phẩm chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, tiết kiệm nhiên liệu, giá thành rẻ, và độ an toàn cao.
III.

Thị trường Honda Việt Nam: Công ty Honda Việt Nam (HVN) là công ty liên doanh gồm 03 đối tác:

- Công ty Honda Motor (Nhật Bản – 42%). - Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan – 28%). - Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp (Việt Nam – 30%). 1. Hình Thức Thâm Nhập của Honda tại thị trường Việt Nam - Nhượng

quyền thương mại:
- Ngay từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam Honda đã chú tâm tới việc xây dựng

các cơ sở phân phối và bán hàng của hãng tại các trung tâm thành phố lớn rồi từ từ len lỏi tới các cơ sở cấp huyện và thị trấn. Honda có hai loại kênh phân phối chính: Các sản phẩm xe máy đến với người tiêu dùng qua các đại lý được Honda ủy nhiệm còn gọi là các Head, còn sản phẩm ô tô thì thông quá các đại lý do hãng chọn.
- Như đa số công ty kinh doanh hiện đại, kể cả trong nước cũng như thế giới, việc nhà

sản xuất bán hàng qua trung gian phân phối (được gọi là nhà phân phối, đại lý, hoặc đại lý ủy quyền) là rất phổ biến. Việc này có những ưu điểm vượt trội so với mô hình bán hàng trực tiếp từ chính hãng. Bằng mô hình này, Honda VN tận dụng được nguồn lực sẵn có của các trung gian, từ tiền vốn, con người, quản lý đến dịch vụ khách hàng và cả mối quan hệ với các khách hàng tiềm năng cũng như các cơ quan công quyền tại thị trường ở các địa phương. Hơn ai hết, Honda hiểu rằng nhà phân phối là cánh tay nối dài của họ trên thị trường, họ đã biết tận dụng sức mạnh của các Head để thâm nhập và chinh phuc thị trường Việt Nam với những con số sau ta có thể thấy được điều này với : Công suất 2 nhà máy sản xuất xe máy là 1,5 triệu

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 23

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
xe/năm và nhà máy lắp ráp ô tô là 10.000 xe/năm. Doanh thu hàng năm trên 1 tỷ USD, Honda Việt Nam là doanh nghiệp FDI lớn nhất Việt Nam. 2. Các chiến lược Honda áp dụng tại Việt Nam:
a. Chiến lược sản phẩm:

Thị phần xe máy năm 2009

S ố x e b á n ra q u a c á c n ă m c ủ a H O N D A

2 1.5 1 0.5 0

2005

2006

2007

2008

2009

HONDA

Y AM AHA

SUZUKI

SY M

KHÁC

S ố x e b á n ra q u a c á c n ă m c ủ a H O N D A

Từ những con số trên ta thấy số xe của Honda bán ra khá lớn. Số lượng xe bán ra qua các năm cho thấy lỗ lực của ban quản trị tổng công ty Honda Việt Nam. Dù có thị phần lớn nhất nhưng Honda cũng phải chịu sự cạnh tranh rất mạnh mẽ từ các Hãng khác, nhất là từ những người đồng hương YAMAHA và SUZUKI. Mặc dù vậy nhưng Honda vẫn chiếm vào ngưỡng 50% thị phần ở Việt Nam.  Honda hợp tác với IBM nâng cấp xe máy - Honda đã kí một hợp đồng với IBM về cung cấp các linh kiện và công nghệ RFID. Thoả thuận này cho phép hãng nâng cao hơn nữa hiệu suất và tính chính xác trong khâu quản lí và sản xuất xe máy. IBM Global Business Services cho biết sẽ trợ giúp Honda trong việc thiết kế và phát triển việc thực hiện công nghệ RFID. Công nghệ này cho phép tự động kiểm tra chính xác từng chiếc xe trong dây chuyền sản xuất. RFID cũng sẽ được sử dụng trên các bộ phận quan trọng như động cơ. Các cố vấn công nghệ và thương mại của IBM đã có mối quan hệ hợp tác lâu

dài với kỹ sư của Honda trong việc thiết kế và xác định những giải pháp tốt nhất trong sản xuất. Vì vậy, công nghệ RFID sẽ nhanh chóng được hợp nhất hoàn toàn

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 24

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
với hệ thống IT hiện có của Honda qua những tiêu chuẩn nền tảng mở rộng, trình ứng dụng Linux và Java (J2EE). Như vậy khâu kiểm kê và giám sát sự phát triển công suất sản phẩm sẽ được theo dõi. Ông Nicola Marrone, ủy viên quản trị dự án nói: "Đây là một thí dụ cho thấy sự

đổi mới công nghệ là sự biến đổi quan trọng của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi đó có thể đem đến khách hàng giá trị thực sự của sản phẩm. IBM nhận thấy rằng giá trị tiềm tàng của RFID từ rất sớm và đã chuyển sang cung ứng các phần mềm tiện ích bằng cách đầu tư vào nghiên cứu và phát triển với những dịch vụ có kỹ năng, kỹ xảo chuyên nghiệp. Kế hoạch trong tương lai của chúng tôi là mở rộng những cải tiến nền tảng của RFID sang cả các lĩnh vực khác như dây chuyền cung cấp và sau đó là phân phối sản phẩm".
b. Chiến lược giá:

 Khuyến mãi giảm giá Các chương trình khuyến mãi giảm giá của Honda không lợi. khi hết giảm giá thì lượng bán cũng giảm theo. Ngoài ra các chiến dịch khuyến mãi giảm giá rầm rộ cũng chỉ lôi kéo được 10% -20% số khách hàng trung thành quan tâm, vì vậy doanh số cũng sẽ không thể tăng “đột biến” như bạn mong đợi. Khuyến mãi theo hình thức giảm giá vừa tốn kém, ít hiệu quả mà còn gây “tác dụng phụ” cho dây chuyền sản xuất và vận chuyển hàng hoá.  Khuyến mại đi kèm khi mua sản phẩm Đây có lẽ là những chiến dịch khuyến mại thành công nhất của Honda. Thông thường trong các chiến dịch này khi mua xe máy của Honda như một chiếc xe Dream bạn được tặng một mũ bảo hiểm của Honda sản xuất, được hỗ trợ phí khi đăng kí giấy tờ về xe, và cũng có thể là được bảo dưỡng định kì tại các trung tâm của Honda mà không phải trả tiền. Đây là những chương trình khuyến mại thể hiện đẳng cấp của Honda. Giá bán xe vẫn cao thể hiện chất lượng và đẳng cấp hơn nữa lại được nhiều lợi đi kèm. Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 25

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
 Chiến lược giá cao : Chúng ta đã từng bị “ấn tượng” bởi những công ty tạo nên sự khác biệt nhờ chiến lược giá cao. Honda là một thương hiệu không mấy xa lạ đối với người dân, sản phẩm của Honda có các sản phẩm bình dân như xe máy Wave giá bán lẻ là 14.9 triệu đồng và cũng có các sản phẩm cao cấp như SH, LEAD,AIR BLADE giá thấp cũng khoảng 3540 triệu tùy loại và từng thời điểm khác nhau.
c. Chiến lược phân phối:

Ngay từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam Honda đã chú tâm tới việc xây dựng các cơ sở phân phối và bán hàng của hãng tại các trung tâm thành phố lớn rồi từ từ len lỏi tới các cơ sở cấp huyện và thị trấn. Honda có hai loại kênh phân phối chính:  Phân phối đặc quyền: Đây là phương thức phân phối sản phẩm mà trong đó các dòng sản phẩm cao cấp như xe máy SH thì được phân phối cho các cơ sở lớn của Honda quản lí thường thì là ở các thành phố lớn như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các sản phẩm này không được phân phối cho các đại lí bán lẻ của Hãng.Và Honda không tốn nhiều chi phí để kiểm soát các địa điểm bán hàng.  Phân phối rộng rãi: Honda sẽ tìm nhiều địa điểm bán hàng tạo thuận lợi cho khách hàng dễ dàng tìm kiếm sản phẩm do chính Honda sản xuất nhưng khả năng kiểm soát hệ thống bán hàng này chở lên khó khăn do ở xa đại lí chính. Đối với các đại lí kiểu như thế này Honda có nhưng rằng buộc và cam kết khi phân phối hàng cho các đại lí, để đảm bảo sản phẩm được bán đúng với giá do Honda quy định. Mục tiêu chính của chính sách phân phối là: - Thông báo với khách hàng tiềm năng của Hãng rằng hiện nay đã có một sản phẩm mới, giới thiệu những cải tiến mới và những ưu việt nổi bật có trong sản phẩm mới đó (cải tiến về công nghệ và cách tân xu hướng thời trang trong sản phẩm này). Cùng với đó là khuyến mại cho một số lượng xe bán sớm nhất.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 26

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
- Bán trực tiếp qua các đại lí phân phối hoăc các đại lí ủy quyền của Honda, việc sản phẩm có bán đươc nhiều hay không là phụ thuộc vào chính các đại lí này. Cùng hỗ trợ cho phương thức này là chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên đài truyền hình và đài phát thanh. - Honda đem giới thiệu sản phẩm mới tại hội chợ thu hút được các khách hàng có quan tâm. Đây cũng là một trong nhưng cách để sản phẩm mới có thể nhanh chóng tới được đối với những khách hàng ở xa đại lí phân phối.
d. Chiến lược yểm trợ, đẩy mạnh, kích thích tiêu thụ sản phẩm:

 Tạo cơn sốt và biến thành làn sóng dư luận - Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi sản phẩm được tung ra phải có sức mạnh nhất định trên thị trường dựa vào một thương hiệu vốn có. Hãng Honda đã từng áp dụng chiêu thức này ở Việt Nam. Khi xe máy Trung Quốc với những kiểu dáng ''giống giống” hàng Nhật xuất hiện và chiếm lĩnh thị trường trong nước, vị trí của Honda trên thị trường Việt Nam đã bị giảm sút thấy rõ. Honda lập tức cho tung ra sản phẩm mới, xe máy Wave Alpha. Sản phẩm này khi tung ra thị trường lập tức thu hút được sự chú ý của người mua vì Wave Alpha có kiểu dáng đẹp, giá rẻ mà hơn nữa lại là của chính hãng Honda, một thương hiệu đã từ lâu đi vào tiềm thức của người Việt với những sản phẩm có thời gian sử dụng lâu dài hợp với tâm lý ''ăn chắc mặc bền'' của người Việt. - Mặc dù đã được nhiều thế hệ ở Việt Nam đón nhận và yêu thích nhưng Honda cung phải chịu sự cạnh tranh từ các đối thủ đồng hương như Yamaha, Suzuki và người bạn đến từ Đài Loan SYM đã rất thành công với xe Attila và Shack. Bằng việc tung ra dòng xe bình dân như Wave hay Dream đã làm cho người tiêu dùng thấy sốc khi giá xe của Honda sản xuất lại thấp như vậy, những dòng xe này nhằm vào đối tượng chủ yếu là người có thu nhập thấp. Sau đó hãng lại tung ra hai chiếc Lead và Air Blade có giá trung bình ngang với giá của các loại xe như Nouvo của Yamaha hay Shack, Attila của Suzuki. Ngay lập tức nhu cầu xe tăng vọt gây sốt xe ,cung không đủ cầu và giá tăng vọt.

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 27

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
 Hướng về khách hàng:

- Honda VN là một công ty hướng về khách hàng. Honda quan tâm đến xã hội VN trên các lĩnh vực như an toàn, chất lượng,luôn chú trọng mang đến cho người dân những sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Là một thành viên tích cực của đất nước VN, ngay từ ngày đầu mới thành lập, Honda VN đã xác định sự phát triển của công ty phải luôn gắn liền với lợi ích chung của xã hội. Với tâm nguyện đó, trong suốt hơn 10 năm có mặt tại Việt Nam, bên cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, Honda VN đã luôn đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của xã hội trên rất nhiều lĩnh vực như: đóng góp cho Ngân sách nhà nước, tuyên truyền an toàn giao thông và hướng dẫn lái xe an toàn, hỗ trợ phát triển giáo dục, văn hóa nghệ thuật, thể thao... Công ty đã thành lập Quỹ hoạt động xã hội Honda với trị giá 10 triệu đô la Mỹ trong vòng 5 năm (2006-2010), với 2 lĩnh vực hoạt động tập trung nhất là: An toàn giao thông và Giáo dục. Trong những năm qua Honda VN đã thực hiện nhiều chương trình và hoạt động nhằm thúc đẩy an toàn giao thông cho mọi người như bản tin an toàn giao thông trên VTV1, chương trình “Tôi yêu Việt Nam” trên VTV và VOV, chương trình lái xe an toàn ở các tỉnh thành cả nước, hội thi nông dân lái xe an toàn. “Tôi yêu Việt Nam” là thông điệp của Honda VN, vì thế với những thành tựu và kết quả đã đạt được điều quan trọng nhất là Honda sẽ còn tiếp tục tiến xa hơn bằng những nỗ lực to lớn với mong ước “Trở thành một Công ty được xã hội mong đợi”. - Xe máy là phương tiện đi lại quan trọng và chủ yếu tại Việt Nam. Kể từ khi Honda bước chân vào thị trường Việt Nam hơn 10 năm trước đây, công ty đã liên tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của thị trường mà xe máy là phương tiện chiếm gần 90% tại các thành phố lớn

 Các nhà máy sản xuất của Honda tại Việt Nam: Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 28

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda

Nhà máy xe máy  Xe máy:

Nhà máy ô tô

Nhà máy xe máy thứ nhất : Tháng 3 năm 1998, Honda Việt Nam khánh thành nhà máy thứ nhất. Được đánh giá là một trong những nhà máy chế tạo xe máy hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á, nhà máy của Honda Việt Nam là minh chứng cho ý định đầu tư nghiêm túc và lâu dài của Honda taị thị trường Việt Nam. Thành lập: Năm 1998 Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: USD 290,427,084 Lao động: 3.560 người.Công suất: 1 triệu xe/năm. Nhà máy xe máy thứ hai: Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng Việt Nam, Honda Việt Nam quyết định đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng tại thị trường Việt Nam. Tháng 8 năm 2008, nhà máy xe máy thứ hai chuyên sản xuất xe tay ga và xe số cao cấp với công suất 500,000 xe/năm đã được khánh thành tại Viêt Nam. Điều đặc biệt của nhà máy xe máy thứ 2 chính là yếu tố “thân thiện với môi trường và con người”. Theo đó, nhà máy này được xây dựng dựa trên sự kết hợp hài hòa và hợp lý nhất các nguồn năng lượng tự nhiên là: Gió, Ánh sáng và Nước. Năm thành lập: Năm 2008 Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: 65 triệu USD

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 29

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
Lao động: 1.375 người Công suất: 500.000 xe/năm Tính đến thời điểm hiện tại, tổng công suất sản xuất của cả 2 nhà máy xe máy là 1,5 triệu xe/năm, đưa Honda Việt Nam trở thành một trong những nhà máy sản xuất xe máy lớn nhất tại khu vực và trên toàn thế giới.
 Ô tô:

Tháng 3 năm 2005, Honda Việt Nam chính thức nhận được giấy phép của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho phép sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam. Đây là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự phát triển của Công ty. Chỉ sau 1 năm và 5 tháng, Honda Việt Nam đã xây dựng thành công nhà máy, xây dựng mạng lưới đại lý, các chương trình đào tạo bán hàng, dịch vụ, lái xe an toàn cho nhân viên các đại lý và ra mắt mẫu xe đầu tiên vào tháng 8 năm 2006. Từ thời điểm đó, Honda Việt Nam không chỉ được biết đến là nhà sản xuất xe máy với các sản phẩm danh tiếng mà còn là nhà sản xuất ô tô uy tín tại thị trường Việt Nam. Nhà máy sản xuất Ô tô: Năm thành lập: 2005 Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: Khoảng 60 triệu USD Lao động: 408 người Công suất: 10,000 xe/năm - Nhà máy sản xuất Ô tô được trang bị máy móc và thiết bị tương tự như các nhà máy Honda ở các nước khác với tiêu chí đặc biệt coi trọng chất lượng, an toàn và thân thiện với môi trường. Hơn nữa, nhà máy còn được trang bị dây chuyền lắp ráp động cơ với mong muốn từng bước nội địa hóa các sản phẩm Ôtô .

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 30

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda

Thành công Honda-Civic tại thị trường Việt Nam:
- Bước đột phá trong công nghệ xe Civic - mẫu xe thân thiết với khách hàng Việt

Nam. Với màu nâu vàng mới, Honda Việt Nam mong muốn sẽ mang lại thêm một diện mạo mới, độc đáo, trang nhã và thanh lịch cho Honda Civic đồng thời thoả mãn những khách hàng trẻ thành đạt yêu thích những gam màu sáng nổi trội và cá tính. Sau khi được giới thiệu tại triển lãm, phiên bản màu mới này cũng sẽ đồng thời được giới thiệu tại các đại lý Ô tô của HVN trên toàn quốc.
- Sau 2 năm có mặt tại thị trường ô tô Việt Nam (kể từ tháng 8 năm 2006), HVN đã

cung cấp hơn 10.000 xe Civic và nhận được đánh giá cao của khách hàng Việt Nam. Với việc trưng bày xe Civic tại triển lãm lần này, Honda Việt Nam mong muốn khách hàng Việt Nam sẽ hiểu thêm về bước đột phá về thiết kế khí động học đồng thời thiết lập những chuẩn mực mới cho phân khúc thị trường của dòng xe này với công nghệ của động cơ i-VTEC mạnh mẽ, tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện với môi trường. Hiện nay, Honda Việt Nam đang sản xuất 3 loại xe Civic bao gồm: Civic 1.8 AT, Civic 1.8 MT và Civic 2.0 với các màu xám bạc, đen tuyền, xám xanh, xanh bạc và màu nâu vàng. Honda Civic có 2 loại động cơ khác nhau là SOHC i-VTEC 1.8 L, công suất 140 mã lực và DOHC i-VTEC 2.0L, công suất 155 mã lực tiết kiệm nhiên liệu, bảo vệ môi trường đạt tiêu chuẩn khí thải EURO 4. Động cơ trưng bày 1.8 iVTEC tại triển lãm lần này có công suất mạnh mẽ như động cơ 2.0 nhưng mức tiêu hao nhiên liệu chỉ bằng loại 1.5 thông thường. Nhờ động cơ tiên tiến i-VTEC và DBW (Drive by Wire: van bướm ga điều khiển bằng điện tử), động cơ này hoạt động Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 31

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda
như hai loại động cơ nằm trong một chiếc xe. Khi ở chế độ tải cao như lúc khởi hành và tăng tốc, chế độ DBW sẽ mở hết bướm ga trong khi cơ chế VTEC sẽ tối ưu hóa thời điểm đóng mở van hút để tạo ra công suất tương đương với động cơ 2.0 lít. Ở chế độ tải thấp, như lúc đang chạy ở vận tốc cao không đổi, DBW sẽ khép hẹp bướm ga trong khi cơ chế VTEC hoãn thời điểm đóng van để đạt mức tiết kiệm nhiêu liệu như loại động cơ 1.5L. Kết Luận: Hình thức nhượng quyền thương mại của Honda tại thị trường Việt Nam đã tạo nên những thành công nhất định của các dòng xe máy cũng như các sản phẩm ô tô nhưng bên cạnh đó việc giao hoàn toàn cho các Head tự quản lý về giá của các dòng xe máy như: Air Blade,Lead,PCX...đã dần tạo nên một làn sóng phải đối từ người tiêu dùng vì với người tiêu dùng chịu chênh lệch từ 5 đến 10 triệu cho 1 chiếc xe máy là điều khó chấp nhận. Đây cũng là việc quan trọng Honda cần giải quyết để tránh một sự ức chế tâm lý dẫn đến việc tẩy chay của người tiêu dùng.

MỤC LỤC Nhóm thực hiện: Nhóm 10 Trang 32

Phân tích chiến lược KDQT –Tập đoàn đa quốc gia Honda

Nhóm thực hiện: Nhóm 10

Trang 33

Sponsor Documents

Or use your account on DocShare.tips

Hide

Forgot your password?

Or register your new account on DocShare.tips

Hide

Lost your password? Please enter your email address. You will receive a link to create a new password.

Back to log-in

Close